
Chúng tôi quyết định thực hiện một chuyến đi ngắn ngày lên Tây Nguyên bằng chiếc xe máy cà tàng - “người bạn đường chung thủy” đã cùng nhau đi qua không ít cung đường. Chẳng có kế hoạch cầu kỳ, cũng không đặt ra một lịch trình cụ thể. Thứ thôi thúc đơn giản chỉ là khát khao được chạm vào bầu không khí mát lành của cao nguyên, được hít căng lồng ngực mùi cỏ cây sau những cơn gió sớm, và được thảnh thơi lang thang giữa những đồi thông bạt ngàn đang ngân lên khúc nhạc riêng của đại ngàn.

Còn cách trung tâm thị trấn Măng Đen tầm 5km, chuyến đi bất ngờ rẽ hướng. Tất cả bắt đầu từ một cú đánh lái đầy ngẫu hứng khi tôi liếc thấy tấm biển bên đường mang cái tên rất gợi trí tò mò: “Kon Vơng Kia”. Không ai ngờ rằng quyết định ấy lại đưa chúng tôi đến một vùng đất đẹp hơn rất nhiều so với những gì từng hình dung.
Con đường bê tông nhỏ dẫn vào làng uốn lượn theo triền đồi, khi lên dốc, lúc đổ xuống những thung lũng nhỏ, đưa chúng tôi đi qua từng xóm nhỏ. Hai bên đường, những ngôi nhà sàn, nhà chứa lúa của người bản địa như những chiếc hộp xinh xắn nằm rải rác, đan xen giữa các thửa ruộng bậc thang vàng óng mùa lúa chín.

Quyết định dừng chân để khám phá điểm đến “không nằm trong kế hoạch” này, chúng tôi chọn khu homestay ở cuối làng, nơi có những ngôi nhà gỗ cũ nhỏ nằm bên đồi thông. Từ độ cao này, có thể quan sát toàn cảnh bản làng, những mái nhà thấp thoáng giữa màu xanh của rừng cây, những thửa ruộng vàng đang vào vụ gặt và những làn khói bếp mỏng manh bay lên trong buổi chiều muộn. Khung cảnh thật bình yên, giản dị nhưng đầy sức quyến rũ.
Đồi Ngọc Trơng hay gọi theo cách thân thuộc của người địa phương là đồi Konke - ngọn đồi cao nhất trong những đồi thông bao quanh Kon Vơng Kia. Trên đỉnh đồi có một khoảng đất rộng khá bằng phẳng, nơi ngôi nhà Rông truyền thống của người Xơ Đăng sừng sững như một biểu tượng văn hóa và cũng là trung tâm sinh hoạt cộng đồng của cả làng. Người chủ homestay bảo rằng, đây là nơi đón những tia nắng đầu tiên của ngày mới, cũng là nơi ánh chiều lưu luyến lâu nhất trước khi khuất hẳn sau những triền núi xa.

Quyết định phải trải nghiệm khoảnh khắc mặt trời lặn xuống chân trời, tôi men theo con đường đất nhỏ dẫn lên đỉnh đồi. Ánh nắng cuối ngày nghiêng qua những tầng thông xanh thẳm, tạo thành những vệt sáng dài đan xen trên mặt đất. Gió thổi qua tán lá, mang theo thứ âm thanh vi vu khiến không gian trở nên đầy chất thơ.
Tôi dừng chân bên những bụi sim tím đang mùa trổ hoa ven dốc, và những cụm dương xỉ xanh mướt để lưu lại những bức ảnh, dù giản đơn nhưng đủ níu chân du khách bước chậm lại...

Khi lên tới đỉnh đồi, hoàng hôn đã phủ một lớp ánh sáng vàng lên khắp bản làng. Từng tốp du khách lặng lẽ tìm cho mình những góc ngồi. Có lẽ cũng giống như tôi, họ kiên nhẫn chờ đợi chỉ để để lưu giữ cho riêng mình khoảnh khắc hoàng hôn hiếm gặp trong đời…
Thật hữu duyên, chuyến đi lần này trùng với dịp người dân Kon Vơng Kia tổ chức lễ mừng lúa mới. Khi mặt trời lặn, khoảng sân trước nhà Rông rực lên bởi ngọn lửa lớn bập bùng. Giữa đồi cao, ngọn lửa trở thành điểm sáng nổi bật giữa màn đêm đại ngàn.

Tiếng chiêng vang lên rồi vọng khắp không gian. Những cô gái Xơ Đăng trong trang phục truyền thống nhẹ nhàng bước vào vòng múa. Đôi tay mềm mại uyển chuyển theo nhịp chiêng, bàn chân nhịp nhàng. Các chàng trai hòa cùng bằng những nhịp chiêng rộn rã, tạo nên bầu không khí tưng bừng. Điệu múa Xoang đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ vẫn hiện diện nguyên vẹn, với ký ức, tâm hồn của một cộng đồng.
Tôi mê man trong cảm xúc kỳ lạ, nửa thực nửa mơ. Cảm giác như mình đang trôi về một miền ký ức xa xôi. Tôi đã hiểu vì sao nhiều người vẫn luôn mang trong lòng một nỗi nhớ đặc biệt với Tây Nguyên khi rời xa mảnh đất này. Bởi, ngọn lửa Tây Nguyên không chỉ để sưởi ấm, tiếng chiêng không chỉ để vui hội, mà tất cả đều là một phần tâm hồn của đại ngàn.

Làng Kon Vơng Kia không lớn, đi từ đầu tới cuối làng tầm khoảng 3 km, mỗi xóm nhỏ chưa tới chục nóc nhà. Nép mình bên bờ sông Long - tựa như một chú rồng đang uốn mình dưới chân đồi, vào mùa nước lũ mạnh mẽ quẫy đạp để tạo nên nhiều vùng đất phù sa màu mỡ. Đây cũng chính là những nơi người dân đã và đang ngày đêm vun đắp thành những lớp ruộng bậc thang đẹp như tranh.
Những ngày ở Kon Vơng Kia là những ngày bình yên nhất trong hành trình của chúng tôi ở Măng Đen. Không có những điểm check-in đông đúc, mỗi ngày chỉ đơn giản là những cuộc dạo chơi từ đồi thông này sang đồi thông khác theo những con đường đất đỏ quanh co đã in dấu chân của bao thế hệ người làng.

Mùa lúa chín phủ lên thung lũng một màu vàng óng ả. Trên những thửa ruộng bậc thang, người dân đang tất bật thu hoạch. Giữa tiếng máy cắt lúa và tiếng gọi nhau í ới, tôi bắt gặp hình ảnh những người cha địu con trước ngực rồi thoăn thoắt vác từng bao lúa lên xe. Những đứa trẻ còn rất nhỏ nằm ngoan trong chiếc địu của cha, đôi mắt tròn xoe nhìn xung quanh. Mồ hôi của người lớn thấm đẫm theo nhịp bước, nhưng những đứa trẻ vẫn bình thản tựa vào ngực cha như thể đó là nơi bình yên nhất trên đời.
Theo những con đường mòn nhỏ từ thôn này qua thôn khác, thi thoảng lại có một chiếc cầu sắt cũ kỹ bắc qua con sông Long để bà con thuận tiện đi lại. Nơi nào cũng bình yên. Đám trẻ con chia thành từng nhóm nhỏ, nhóm thì mải mê chạy theo cánh diều đang căng gió, nhóm khác lại ôm những chiếc lá đủ hình dạng rồi chơi trò đố nhau đoán tên cây từ chiếc lá. Ở góc kia, mấy bé gái hái những bông hoa ven đường để kết thành vòng tay, vòng cổ làm đồ chơi.

Ở một phía khác, những người đàn ông vừa trở về sau một ngày làm việc trên đồng vẫn tụm lại bên chiếc máy cày đang hỏng. Câu chuyện sửa chữa đôi khi xen lẫn những tràng cười sảng khoái khiến buổi chiều nơi miền quê trở nên rộn ràng hơn.
Từ những ngôi nhà mới của các đôi vợ chồng trẻ, tiếng nhạc vang lên hòa cùng tiếng trẻ con nô đùa và tiếng gọi nhau giữa xóm làng. Mọi âm thanh đời thường ấy kết hợp với nhau tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống thường nhật ở một làng nhỏ nép bên cánh rừng.

Có lẽ điều khiến người ta cảm mến nhất chính là con người Kon Vơng Kia. Gặp khách lạ, họ đều chủ động chào hỏi bằng sự chân thành, mộc mạc.
Trò chuyện cùng một nữ du khách đến từ TP. Hồ Chí Minh, chị bảo ban đầu chỉ dự định ghé qua Kon Vơng Kia cho biết, nhưng rồi vẻ đẹp của ngôi làng đã “giữ chân” chị ở lại lâu hơn dự tính. “Người dân ở đây chân chất, mộc mạc. Thiên nhiên thì gần như còn nguyên sơ. Mọi thứ bình yên đến mức chẳng ai muốn muốn rời đi”, chị giãi bày.

Tôi siết chặt bàn tay chị như một lời đáp lại cho sự đồng cảm không cần nói thành lời. Bởi tôi hiểu rất rõ cảm giác ấy. Và có lẽ, bất kỳ ai từng một lần dừng chân ở Kon Vơng Kia cũng sẽ mang theo trong lòng một chút lưu luyến khi rời đi. Nơi đây không có những điều quá đặc biệt để gây choáng ngợp, nhưng lại sở hữu một sức hút âm thầm khiến người ta nhớ mãi - nhớ những con người hiền hậu, những buổi chiều bảng lảng khói bếp và nhịp sống bình yên nơi đại ngàn.

Giờ đây, khi ngồi viết những dòng này, tôi đã trở về thành phố, cách Kon Vơng Kia hàng trăm cây số. Thế nhưng, chỉ cần khép mắt lại, tôi vẫn có thể nghe thấy tiếng gió lùa qua những đồi thông, tiếng chim gọi nhau trong buổi sớm và tiếng cười rộn rã vọng ra từ một mái nhà nào đó.
Kon Vơng Kia vẫn ở lại trong miền nhớ của tôi - như màu vàng của mùa lúa chín, như tiếng chiêng ngân vang trong đêm hội, như làn khói bếp bảng lảng giữa chiều cao nguyên.
Hẹn gặp lại nhé, Kon Vơng Kia.
